Mục lục

  1. Nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản không có căn cứ pháp luật
  2. Không trả lại tiền do người khác chuyển khoản nhầm bị xử lý như thế nào?
    • 2.1 Xử phạt hành chính
    • 2.2 Truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản không có căn cứ pháp luật

Theo Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả tai sản không có căn cứ pháp luật:

“Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả

1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.”

Trừ trường hợp quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:

“Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Như vậy, căn cứ quy định trên người nhận được tiền chuyển khoản nhầm của người khác thì phải hoàn trả lại cho người bị thiệt hại, trong trường hợp không biết hoặc không tìm được thông tin của người chuyển nhầm thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

2. Không trả lại tiền do người khác chuyển khoản nhầm thì bị xử lý như thế nào?

2.1 Xử phạt hành chính

Xử lý vi phạm hành chính về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác quy định tại Điểm đ, khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP

“2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây

đ) Sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác;”

Ngoài ra, theo khoản 3, 4 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả:

“3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 và các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều này;

b) Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm đ và e khoản 2 Điều này;

c) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

2.2 Truy cứu trách nhiệm hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” đối với người có hành vi không trả lại tiền do người khác chuyển khoản nhầm đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, tùy vào tính chất và mức độ vụ việc mà người có hành vi không trả lại tiền do người khác chuyển khoản nhầm theo yêu cầu của chủ sở hữu thì có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.