MỨC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRẺ SƠ SINH ĐƯỢC QUY ĐỊNH THẾ NÀO?

Mục lục

  • 1. Hành vi nào được xem là “mua, bán” trẻ sơ sinh?
  • 2. Xử lý như thế nào với người có hành vi lợi dụng việc “cho, nhận” con nuôi là trẻ sơ sinh để thực hiện hành vi “mua, bán” cho người khác?
  • 3. Mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán trẻ sơ sinh được quy định thế nào?

1. Hành vi nào được xem là “mua, bán” trẻ sơ sinh?

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP quy định hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật hình sự thì thực hiện một trong các hành vi sau đây thì được xem là “mua, bán” trẻ sơ sinh, cụ thể như sau:

            “2. Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:

            a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

            b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

            c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

            d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

            đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.”

2. Xử lý như thế nào với người có hành vi lợi dụng việc ” cho, nhận” con nuôi là trẻ sơ sinh để thực hiện hành vi “mua, bán” cho người khác?

            Theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP quy định hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của bộ luật hình sự thì người có hành vi lợi dụng việc “cho, nhận” con nuôi là trẻ sơ sinh để thực hiện hành vi “mua, bán” cho người khác sẽ bị xử lý như sau:

            “Điều 7. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi

            1. Người sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi dưới 16 tuổi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

            a) Biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi dưới 16 tuổi là để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bán cho người khác hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn chuyển giao nạn nhân để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

            b) Lợi dụng việc cho nhận con nuôi để tiếp nhận con nuôi là người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

            c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi dưới 16 tuổi trái pháp luật hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái pháp luật mà biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

            2. Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái pháp luật hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái pháp luật, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi, nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng theo quy định của Bộ luật Hình sự.

            3. Người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã môi giới cho người này xin con nuôi của người vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện nuôi con muốn cho con đẻ của mình đi làm con nuôi và có nhận một khoản tiền từ việc cho con và việc môi giới. Đây là trường hợp vì mục đích nhân đạo nên người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi.”

3. Mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán trẻ sơ sinh được quy định thế nào?

Căn cứ Điều 151 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội mua bán trẻ sơ sinh được xác định như sau:

            Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

            1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

            a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

            b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

            c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

            2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

            a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

            b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;

            c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

            d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

            đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

            e) Phạm tội 02 lần trở lên;

            g) Vì động cơ đê hèn;

            h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

            3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

            a) Có tổ chức;

            b) Có tính chất chuyên nghiệp;

            c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

            d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

            đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

            e) Đối với 06 người trở lên;

            g) Tái phạm nguy hiểm.

            4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Bài viết cùng chủ đề: