QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015, SỬA ĐỔI BỔ SUNG NĂM 2017

Mục lục

  1. Đe dọa giết người là gì?
  2. Tội đe dọa giết người theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
  3. Đe dọa giết người trên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?

1. Đe dọa giết người là gì?

Đe dọa giết người được hiểu là hành vi của người đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện và người phạm tội không có ý thức tước đoạt tính mạng của người bị đe dọa cũng như không có ý thức để mặc cho hậu quả người bị đe dọa chết xảy ra.

2. Tội đe dọa giết người theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tội đe dọa giết người được quy định theo Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

                “Điều 133. Tội đe dọa giết người

            1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

            2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

            a) Đối với 02 người trở lên;

            b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

            c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

            d) Đối với người dưới 16 tuổi;

            đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”

3. Đe dọa giết người trên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?

Nếu hành vi đe dọa giết người trên mạng xã hội chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt hành chính theo điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử như sau:

            “3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi:

            g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.”

            Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử thì mức phạt trên áp dụng đối với tổ chức, nếu cá nhân có hành vi vi phạm tương tự thì mức phạt bằng ½.

Bài viết cùng chủ đề: