Mục lục

  • 1. Tâm thần là gì?
  • 2. Người mắc bệnh tâm thần có chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội không?
  • 3. Khi nào người mắc bệnh tâm thần vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự?

1. Tâm thần là gì?

Tâm thần được hiểu đơn giản là một dạng bệnh lý xuất hiện do hiện tượng rối loạn hoạt động của não bộ gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, tác phong, tình cảm và hành vi,… của người bệnh.

Theo Quyết định 2999/QĐ-BYT ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần 30 bệnh/rối loạn tâm thần thường gặp như sau:

            1. Mất trí trong bệnh pick (F02.0)

            2. Mất trí không biệt định (F03)

            3. Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cần sa (F12)

            4. Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cocaine (F14)

            5. Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích khác bao gồm cafeine (F15)

            6. Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2)

            7. Rối loạn loạn thần đa dạng cấp với các triệu chứng của tâm thần phân liệt (F23.1)

            8. Hưng cảm nhẹ (F30.0)

            9. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp (F31.6)

            10. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F31.7)

            11. Giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)

            12. Giai đoạn trầm cảm vừa (F32.1)

            13. Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại thuyên giảm (F33.4)

            14. Khí sắc chu kỳ (F34.0)

            15. Rối loạn hoảng sợ (F41.0)

            16. Rối loạn lo âu lan tỏa (F41.1)

            17. Phản ứng trầm cảm ngắn (F43.20)

            18. Phản ứng trầm cảm kéo dài (F43.21)

            19. Phản ứng hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F43.22)

            20. Sững sờ phân ly (F44.2)

            21. Các rối loạn vận động phân ly (F44.4)

            22. Co giật phân ly (F44.5)

            23. Các rối loạn phân ly (chuyển di) hỗn hợp (F44.7)

            24. Rối loạn cơ thể hóa (F45.0)

            25. Xu hướng tình dục quá mức (F52.7)

            26. Các rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.0)

            27. Các rối loạn tâm thần và hành vi nặng, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.1)

            28. Biến đổi nhân cách kéo dài sau trải nghiệm sự kiện bi thảm (F62.0)

            29. Biến đổi nhân cách kéo dài sau bệnh tâm thần (F62.1)

            30. Loạn dục trẻ em (F65.4)

2. Người mắc bệnh tâm thần có chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bản thân hay không?

Tại Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự như sau:

            “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”

             Mặc dù vậy, để xác định tính chính xác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thật sự mắc bệnh tâm thần hay không thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định theo khoản 1 Điều 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án.

            Sau khi trưng cầu giám định cho thấy người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần thì căn cứ theo khoản 1 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

            Mặc khác, tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng người mắc bệnh tâm thần vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, căn cứ khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại sẽ do người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại tùy vào đối tượng bị xâm hại là tài sản, sức khỏe hay tính mạng con người.

3. Khi nào người mắc bệnh tâm thần vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

Phân tính Điều 21, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, không phải mọi trường hợp bị bệnh tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi “đang” mắc bệnh thì mới được miễn trách nhiệm hình sự, còn trường hợp thuộc khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.