Xin chào luật sư. Tôi có dự định khởi nghiệp bằng nghề kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản, tôi muốn biết kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản có bắt buộc phải thành lập doanh nghiệp không? Tôi xin cảm ơn!

Mục lục

  • 1. Pháp luật quy định về dịch vụ tư vấn bất động sản
  • 2. Không thành lập doanh nghiệp khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản thì có bị phạt không?

1. Pháp luật quy định về dịch vụ tư vấn bất động sản

Theo Điều 74 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định:

Dịch vụ tư vấn bất động sản

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải thành lập doanh nghiệp.

2. Nội dung kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản bao gồm:

a) Tư vấn pháp luật về bất động sản;

b) Tư vấn về đầu tư tạo lập, kinh doanh bất động sản;

c) Tư vấn về tài chính bất động sản;

d) Tư vấn về giá bất động sản;

đ) Tư vấn về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.

3. Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, phí dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

4. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Theo quy định trên, tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản thì phải thành lập doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

2. Không thành lập doanh nghiệp khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản thì có bị phạt không?

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 58 Nghị định 16/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2022 quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng:

“Điều 58. Vi phạm quy định về kinh doanh bất động sản

1. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Kinh doanh bất động sản thuộc trường hợp phải thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã mà không thành lập theo quy định;”

Như vậy, không thành lập doanh nghiệp khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.