NHÀ ĐẦU TƯ “SONG TỊCH”? RỐT CUỘC LÀ “NHÀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC” HAY “NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI”

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, làn sóng kiều bào và những cá nhân mang hai quốc tịch (song tịch) mang nguồn vốn trở về Việt Nam đầu tư kinh doanh đang ngày càng gia tăng. Thực tiễn này đặt ra một bài toán pháp lý vô cùng thú vị: Khi một cá nhân vừa nắm trong tay hộ chiếu Việt Nam, lại vừa sở hữu hộ chiếu nước ngoài, hệ thống pháp luật sẽ định vị họ là “người nhà” (nhà đầu tư trong nước) hay “người ngoài” (nhà đầu tư nước ngoài)? Bài viết sau đây sẽ phân tích chi tiết.

1. Tư cách nhà đầu tư dưới quy định pháp luật đầu tư hiện hành

Khởi nguồn của vấn đề nằm ở cách nhà làm luật định danh các nhóm chủ thể. Cụ thể, khoản 20 Điều 3 Luật Đầu tư 2025 định nghĩa rất rõ ràng: “Nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Trong khi đó, ngay tại khoản 19 Điều 3 của đạo luật này lại quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.

Cách định nghĩa phân định rạch ròi theo tiêu chí quốc tịch này hoạt động rất trơn tru với những cá nhân mang đơn tịch. Tuy nhiên, nó lại vô tình tạo ra một tình huống pháp lý đặc biệt đối với nhóm nhà đầu tư kiều bào hoặc những người có hai quốc tịch. Bởi lẽ, với vị thế đặc thù của mình, một cá nhân mang song tịch hiển nhiên thỏa mãn cùng lúc cả hai định nghĩa luật định nêu trên. Nếu người đó sử dụng Căn cước công dân hoặc hộ chiếu Việt Nam, hệ thống pháp luật phải công nhận họ là “nhà đầu tư trong nước”. Nhưng nếu họ sử dụng hộ chiếu do nước ngoài cấp, họ lại hoàn toàn đủ tiêu chuẩn pháp lý để được gọi là “nhà đầu tư nước ngoài”.

Sự mắc kẹt giữa hai lằn ranh này không đơn thuần chỉ là một vướng mắc về mặt câu chữ hay lý luận hàn lâm. Trên thực tiễn, việc định vị một cá nhân là “người nhà” hay “người ngoài” mang ý nghĩa rất quan trọng, quyết định toàn bộ quy trình đầu tư tiếp theo của họ. Sự khác biệt về tư cách sẽ dẫn đến sự khác biệt hoàn toàn về việc họ có bị giới hạn bởi danh mục ngành nghề tiếp cận thị trường hay không, quy trình xin giấy phép kinh doanh đơn giản hay phức tạp, và cả những đặc quyền bảo hộ tài sản quốc tế.

2. Lời giải từ quy định pháp luật đầu tư giai đoạn 2025 – 2026

Chính vì sự giao thoa quyền lợi này, thực tiễn áp dụng pháp luật đòi hỏi một cơ chế chuyên biệt để phân luồng quản lý một cách minh bạch. Mục đích là để gỡ rối cho cơ quan đăng ký đầu tư trong khâu xét duyệt hồ sơ, đồng thời ngăn chặn rủi ro nhà đầu tư lợi dụng tình trạng song tịch để “bắt cá hai tay”. Và lời giải cho bài toán hóc búa này đã được Chính phủ cụ thể hóa thông qua cơ chế trao quyền tự quyết tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2026/NĐ-CP.

Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2026/NĐ-CP, đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh thực hiện tại Việt Nam, nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được quyền lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường và thủ tục đầu tư như quy định áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài.

Đây có thể ví như một đặc quyền hiếm hoi mà không phải nhóm chủ thể nào cũng có được. Việc cho phép chọn “tư cách” cho thấy tư duy quản lý nhà nước đã chuyển từ kiểm soát hành chính nhân thân sang quản lý theo hành vi và dòng vốn. Vậy, ở góc độ là một nhà đầu tư “song tịch”, khi nào nên chọn tư cách “nhà đầu tư trong nước”, khi nào nên chọn làm “nhà đầu tư nước ngoài”?

3. Lợi ích và bất lợi tương ứng ở mỗi tư cách nhà đầu tư

3.1. Tư cách “nhà đầu tư trong nước”

Khi cất tấm hộ chiếu ngoại và dùng danh xưng công dân Việt Nam, nhà đầu tư “song tịch” lập tức có thể thoát khỏi trở ngại tất yếu mang tên “Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài”, bao gồm cả những ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường cho đến những ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện. Lúc này, họ có thể tự do rót vốn vào mọi ngóc ngách của nền kinh tế, từ bất động sản, logistics cho đến thương mại dịch vụ mà không bị khống chế tỷ lệ sở hữu vốn hay phạm vi hoạt động. Bên cạnh đó, lợi thế sân nhà còn thể hiện ở tốc độ trong thủ tục pháp lý. Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 26 Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư “song tịch” khi ấy hoàn toàn được miễn thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Dự án có thể đi thẳng vào bước thành lập doanh nghiệp và xin giấy phép con, giúp tiết kiệm hàng tháng trời chờ đợi và vô số chi phí tuân thủ hành chính.

Nhưng đổi lại, cái giá phải trả cho sự nhanh gọn của lựa chọn này chính là việc nhà đầu tư song tịch sẽ bị tự tước đi cơ chế bảo hộ quốc tế. Hệ thống pháp luật sẽ coi họ là một người Việt Nam thuần túy. Điều này đồng nghĩa với việc họ không được hưởng quyền tự do chuyển tài sản, lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài theo cơ chế bảo hộ đặc quyền tại Điều 11 Luật Đầu tư 2025. Nghiêm trọng hơn, nếu xảy ra xung đột lợi ích với cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư sẽ mất đặc quyền mang vụ việc ra xét xử tại Trọng tài quốc tế hoặc Trọng tài nước ngoài để tìm kiếm sự phân xử độc lập như quy định tại Điều 13 Luật Đầu tư 2025. Mọi tranh chấp sẽ phải giải quyết nội bộ thông qua Tòa án hoặc Trọng tài Việt Nam. 

3.2. Tư cách “nhà đầu tư nước ngoài”

Việc sử dụng quốc tịch nước ngoài là lựa chọn tối ưu cho những dự án quy mô lớn, cần sự an toàn tuyệt đối cho dòng vốn. Đóng vai “người ngoài”, nhà đầu tư song tịch sẽ được Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền chuyển vốn đầu tư, lợi nhuận và tài sản thanh lý ra nước ngoài một cách tự do, minh bạch (căn cứ vào Điều 11 Luật Đầu tư 2025). Trong kịch bản xấu nhất khi xảy ra tranh chấp với cơ quan nhà nước, họ có toàn quyền khởi kiện ra Trọng tài quốc tế (theo khoản 4 Điều 13 Luật Đầu tư 2025) trong trường hợp có thỏa thuận theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên có quy định. 

Ngoài ra, căn cứ vào khoản 8 và khoản 9 Điều 17 Nghị định 96/2026/NĐ-CP (cụ thể hóa nguyên tắc tại khoản 6 Điều 5 Luật Đầu tư 2025), nếu nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của điều ước quốc tế về đầu tư có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư đó thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam thì được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo điều ước đó. Thậm chí, nếu thuộc đối tượng áp dụng của nhiều điều ước quốc tế có quy định khác nhau, nhà đầu tư nước ngoài còn được lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo một trong các điều ước đó để hưởng lợi ích cao nhất. 

Ở khía cạnh bất lợi, ứng với lựa chọn như một “người ngoài”, nhà đầu tư song tịch buộc chấp nhận sự kiểm soát khắt khe. Dự án của họ sẽ bị cơ quan quản lý kiểm soát rất kỹ qua lăng kính của Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường. Mặt khác, họ có thể bị giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn, hoặc thậm chí bị cấm đầu tư vào một số lĩnh vực nhạy cảm. Thêm vào đó, rào cản lớn nhất về thời gian là việc họ bắt buộc phải trải qua thủ tục thẩm định để xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư 2025 trước khi được phép thành lập doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt nam.

KẾT LUẬN

Khép lại bức tranh pháp lý về nhà đầu tư mang hai quốc tịch, có thể thấy hệ thống pháp luật đầu tư hiện hành, với trọng tâm là Luật Đầu tư 2025 và Nghị định 96/2026/NĐ-CP, đã ghi nhận bước chuyển biến đáng kể trong tư duy quản lý. Thay vì tiếp cận theo hướng phân loại cứng nhắc dựa trên yếu tố nhân thân, pháp luật đã trao cho nhà đầu tư quyền chủ động lựa chọn tư cách pháp lý khi tham gia hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, tình trạng “song tịch” không còn bị xem là một điểm nghẽn pháp lý hay yếu tố nhạy cảm, mà có thể trở thành một lợi thế trong việc hoạch định chiến lược đầu tư.

Tuy nhiên, quyền lựa chọn này luôn đi kèm với những giới hạn nhất định. Cơ chế xác định tư cách nhà đầu tư đặt ra yêu cầu về tính nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời dự án, qua đó loại trừ khả năng lợi dụng sự khác biệt giữa các chế độ pháp lý. Theo đó, nhà đầu tư mang hai quốc tịch có quyền lựa chọn tư cách nhà đầu tư tại thời điểm thực hiện thủ tục đầu tư; tuy nhiên, một khi đã lựa chọn, họ phải duy trì tư cách đó trong suốt quá trình triển khai dự án (Theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2026/NĐ-CP). Pháp luật không cho phép việc linh hoạt chuyển đổi tư cách giữa chừng nhằm tìm kiếm các lợi ích pháp lý ngắn hạn.

Do đó, việc xác định tư cách nhà đầu tư không thể dựa trên cảm tính, mà cần được cân nhắc trên cơ sở các yếu tố chiến lược, bao gồm đặc điểm dự án, mức độ tiếp cận thị trường, yêu cầu về thủ tục hành chính và nhu cầu bảo đảm an toàn pháp lý. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, việc lựa chọn tư cách nhà đầu tư trong nước có thể mang lại lợi thế về thủ tục và khả năng tiếp cận thị trường, trong khi tư cách nhà đầu tư nước ngoài có thể gắn với các cơ chế bảo hộ theo điều ước quốc tế. Chỉ khi nhận diện đầy đủ các yếu tố này và chấp nhận những đánh đổi tương ứng, nhà đầu tư mang hai quốc tịch mới có thể tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và bảo đảm tính ổn định pháp lý trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam.