KHUNG PHÁP LÝ VỀ ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ 2026. TRƯỜNG HỢP NÀO NHÀ ĐẦU TƯ ĐƯỢC HƯỞNG?

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gia tăng về cường độ và phạm vi giữa các quốc gia, việc thiết lập một khung pháp lý hiện đại, linh hoạt và đủ năng lực kiến tạo động lực tăng trưởng không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với mỗi nền kinh tế. Sự ra đời của Luật Đầu tư 2025 đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy điều hành của Nhà nước, từ cách tiếp cận thiên về ưu đãi tài chính đơn lẻ sang xây dựng một hệ thống chính sách hỗ trợ đầu tư có cấu trúc, đa tầng và định hướng chiến lược rõ ràng.

Theo đó, khung chính sách được thiết kế theo ba cấp độ gồm ưu đãi thông thường, ưu đãi đặc biệt và cơ chế vượt khung, phản ánh mức độ ưu tiên khác nhau đối với từng loại dự án và lĩnh vực. Bài viết này tập trung phân tích các khái niệm cốt lõi, điều kiện áp dụng cũng như những điểm đổi mới quan trọng của Luật Đầu tư 2025, qua đó cung cấp một góc nhìn hệ thống nhằm giúp nhà đầu tư và doanh nghiệp nhận diện đúng cơ hội, đồng thời vận dụng chính sách một cách hiệu quả và phù hợp với quy định pháp luật.

1. Khái niệm

1.1. Ưu đãi đầu tư là gì?

Mặc dù Luật Đầu tư 2025 không đưa ra một định nghĩa cố định, nhưng thông qua các quy định về hình thức và nguyên tắc áp dụng được quy định tại Điều 14, Luật Đầu tư 2025, có thể hiểu rằng, ưu đãi đầu tư là việc Nhà nước thiết lập các cơ chế giảm trừ nghĩa vụ tài chính hoặc tạo lợi thế về kế toán cho các nhà đầu tư khi họ thực hiện dự án vào những ngành, nghề, địa bàn được khuyến khích hoặc đạt quy mô nhất định. 

Đặc trưng cốt lõi của chính sách này thể hiện ở việc Nhà nước chủ động thu ít đi một phần ngân sách lẽ ra được hưởng nhằm giảm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, thông qua các hình thức như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, tiền sử dụng và thuê đất, hoặc cho phép khấu hao nhanh tài sản,…(khoản 2 Điều 14, Luật Đầu tư 2025). Tuy nhiên, cơ chế này không mang tính chất ban phát vô điều kiện mà luôn đi kèm với thời hạn cụ thể và gắn liền với kết quả thực hiện dự án. Theo đó, nhà đầu tư bắt buộc phải duy trì việc đáp ứng các điều kiện luật định trong suốt thời gian thụ hưởng.

1.2. Hỗ trợ đầu tư là gì?

Tương tự như ưu đãi đầu tư, Luật Đầu tư 2025 không đóng khung khái niệm “hỗ trợ đầu tư” bằng một định nghĩa nhất định. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, “hỗ trợ đầu tư” là việc Nhà nước chủ động thiết lập các cơ chế cung cấp nguồn lực, tiện ích hoặc các trợ lực vật chất và phi vật chất nhằm giúp nhà đầu tư giảm thiểu chi phí đầu vào, thuận lợi tiếp cận các yếu tố sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. 

Khác với “ưu đãi đầu tư” – một hình thức luôn gắn liền với các ưu đãi về mặt tài chính, đặc trưng của “hỗ trợ đầu tư” lại mang tính chất nhất thời và động viên trực tiếp, thể hiện qua các hình thức đa dạng như: hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài hàng rào dự án, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ tiếp cận mặt bằng, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), và đặc biệt chú trọng đến hỗ trợ chuyển đổi xanh, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu và chuyển đổi số (được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 14 Luật Đầu tư 2025). 

Khác với ưu đãi đầu tư, tính chất của hỗ trợ đầu tư mang định hướng điều tiết rất rõ rệt và phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, tập trung ưu tiên cho các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hoặc các dự án đầu tư vào lĩnh vực thiết yếu như nông nghiệp, nông thôn, giáo dục, y tế (căn cứ khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư 2025). Đáng chú ý, tính chất kiến tạo nền tảng của hỗ trợ đầu tư nay đã được thể chế hóa thông qua cơ chế thành lập Quỹ Hỗ trợ đầu tư (sử dụng nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu) nhằm ổn định môi trường đầu tư, tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước ở các lĩnh vực mũi nhọn (căn cứ khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư 2025).

1.3. Phân loại ưu đãi đầu tư theo cấp độ

Ưu đãi đầu tư thông thường

Đây là loại ưu đãi đầu tư phổ biến nhất, áp dụng rộng rãi cho số đông các doanh nghiệp hiện nay. Theo đó, chỉ cần doanh nghiệp đáp ứng đúng tiêu chí luật định là sẽ tự động được hưởng các mức miễn, giảm thuế, tiền thuê đất theo khung hiện hành của pháp luật về thuế, kế toán và đất đai.

Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt

Đây là mức áp dụng ở cấp độ cao hơn, thường được thu hẹp và chỉ dành riêng cho các dự án công nghệ chiến lược có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội hoặc thu hút các đại bàng công nghệ trứ danh trong ngành. 

Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư vượt khung

Đây là cấp độ ưu đãi mang tính ngoại lệ, không bị giới hạn bởi các khung định mức thông thường của pháp luật về thuế hay đất đai, mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chính trị và định hướng chiến lược cấp cao của Nhà nước.

2. Điều kiện áp dụng

2.1.1. Điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư thông thường

Điều 14. Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư

1. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư bao gồm:

a) Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 15 của Luật này;

b) Dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 15 của Luật này;

c) Dự án đầu tư có quy mô vốn lớn, dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động hoặc dự án đầu tư trọng điểm, quan trọng quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Điều này được hướng dẫn và quy định cụ thể hơn tại Điều 19, Nghị định 96/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 31/03/2026.

Điều 19. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư

Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Đầu tư bao gồm:

1. Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư hoặc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại Phụ lục II của Nghị định này.

2. Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Luật Đầu tư và Điều 22 của Nghị định này.

3. Dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư (đối với dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư) hoặc Quyết định chấp thuận nhà đầu tư (đối với dự án không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư);

b) Có tổng doanh thu tối thiểu đạt 10.000 tỷ đồng mỗi năm trong thời gian chậm nhất sau 03 năm kể từ năm có doanh thu hoặc sử dụng từ 3.000 lao động thường xuyên bình quân hằng năm trở lên theo quy định của pháp luật về lao động chậm nhất sau 03 năm kể từ năm có doanh thu.

4. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở.

5. Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động thường xuyên bình quân hằng năm trở lên theo quy định của pháp luật về lao động (không bao gồm lao động làm việc không trọn thời gian và lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng).

6. Dự án đầu tư sử dụng từ 30% số lao động thường xuyên bình quân hằng năm trở lên là người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật và pháp luật về lao động.

7. Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ, dự án có chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, cơ sở ươm tạo công nghệ và cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp sản xuất, cung cấp công nghệ, thiết bị, sản phẩm và dịch vụ phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược.

8. Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

9. Trung tâm đổi mới sáng tạo khác do cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập thực hiện, hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, được công nhận theo tiêu chí năng lực và kết quả hoạt động theo quy định pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

10. Dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là một trong các dự án sau:

a) Sản xuất sản phẩm hình thành từ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, phần mềm máy tính, ứng dụng trên điện thoại di động, điện toán đám mây, sản xuất dòng, giống vật nuôi mới, giống cây trồng mới, giống thủy sản mới, giống cây lâm nghiệp mới, tiến bộ kỹ thuật đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, quyền tác giả hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

b) Sản xuất sản phẩm được tạo ra từ các dự án sản xuất thử nghiệm, sản phẩm mẫu và hoàn thiện công nghệ, sản xuất sản phẩm đạt giải tại các cuộc thi khởi nghiệp, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia, các giải thưởng về khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về giải thưởng khoa học và công nghệ;

c) Dự án của các doanh nghiệp hoạt động tại các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển;

d) Sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa hình thành từ quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

11. Dự án thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển.

12. Chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa là mạng lưới các trung gian thực hiện phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa đến người tiêu dùng và đáp ứng các điều kiện sau:

a) Có ít nhất 80% số doanh nghiệp tham gia là doanh nghiệp nhỏ và vừa;

b) Có ít nhất 10 địa điểm phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng;

c) Tối thiểu 50% doanh thu của chuỗi được tạo ra bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia trong chuỗi.

13. Cơ sở ươm tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là cơ sở được thành lập theo quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

14. Cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt theo quy định của pháp luật về công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp.

15. Dự án phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, thu hút đầu tư quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

16. Dự án thuộc Danh mục các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Nhìn chung, nếu đối chiếu và đáp ứng được các nhóm điều kiện nền tảng nêu trên, doanh nghiệp sẽ chính thức đủ điều kiện để hưởng ưu đãi đầu tư thông thường đối với dự án của mình. 

2.1.2 Điều kiện hưởng hỗ trợ đầu tư thông thường

Đối với chính sách hỗ trợ đầu tư, Luật Đầu tư 2025 không thiết lập một điểm khoản xác định điều kiện độc lập như ưu đãi đầu tư mà quy định nguyên văn về đối tượng được ưu tiên hỗ trợ tại khoản 4 Điều 14 như sau:

“Điều 14. Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư

4. Căn cứ định hướng phát triển kinh tế – xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định chi tiết các hình thức hỗ trợ đầu tư quy định tại khoản 3 Điều này đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục và y tế, phổ biến pháp luật, doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và các đối tượng khác.”

Xét về mặt bản chất, nếu như ưu đãi đầu tư được thiết lập dưới dạng một cơ chế giảm trừ nghĩa vụ tài chính mang tính hệ quả và có điều kiện (tức Nhà nước từ bỏ một phần nguồn thu ngân sách khi nhà đầu tư đáp ứng và duy trì các tiêu chuẩn luật định) thì Hỗ trợ đầu tư lại mang tính chất của một cơ chế trợ lực chủ động từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, sự phân bổ nguồn lực hỗ trợ này không mang tính đại trà. Dựa trên tinh thần của khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư 2025, Nhà nước thực hiện chính sách quy hoạch nguồn lực có chọn lọc, chỉ tập trung dòng vốn hỗ trợ cho hai nhóm đối tượng cốt lõi: 

Một là, nhóm tạo động lực đột phá (chẳng hạn như doanh nghiệp công nghệ cao, khoa học công nghệ).

Hai là, nhóm gánh vác an sinh xã hội, thiết yếu nhưng lại yếu thế (như nông nghiệp, y tế, giáo dục). 

Điều 16. Quỹ Hỗ trợ đầu tư

1. Chính phủ thành lập Quỹ Hỗ trợ đầu tư để ổn định môi trường đầu tư, khuyến khích, thu hút nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đối với một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư.

…”

Đặc biệt, tính khả thi và quy mô của các gói hỗ trợ này không mang tính cố định tuyệt đối, mà bị chi phối trực tiếp bởi khả năng cân đối ngân sách nhà nước, cũng như dư địa điều tiết của Quỹ Hỗ trợ đầu tư trong từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội (căn cứ khoản 4 Điều 14 và khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư 2025) 

2.2. Điều kiện hưởng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt

Để một dự án được thụ hưởng cơ chế ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư phải đáp ứng đồng thời các tiêu chí khắt khe về đối tượng thụ hưởng và không vi phạm các điều kiện loại trừ. 

Điều 17. Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt

2. Đối tượng áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Dự án đầu tư thành lập mới (bao gồm cả việc mở rộng dự án thành lập mới đó) các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng di động từ 5G trở lên và hạ tầng số khác trong lĩnh vực công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ;

c) Dự án đầu tư khác (bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng) thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ.

…”

Về điều kiện cần, căn cứ khoản 2 Điều 17 Luật Đầu tư 2025, đặc quyền này có phạm vi áp dụng hẹp, chỉ nhắm đích danh vào các dự án mang tính trọng điểm quốc gia, bao gồm: nhóm hạ tầng công nghệ chiến lược và đổi mới sáng tạo (trung tâm đổi mới sáng tạo, R&D, hạ tầng dữ liệu lớn, điện toán đám mây, mạng 5G trở lên), nhóm công nghiệp công nghệ số, bán dẫn, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI), và các dự án đầu tư có quy mô khổng lồ thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi khác. Tuy nhiên, ngoại trừ Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được Thủ tướng quyết định thành lập, các dự án còn lại không mặc nhiên được hưởng ưu đãi mà bắt buộc phải thỏa mãn tiêu chí kép về “quy mô vốn đầu tư” và “thời hạn giải ngân” do Chính phủ quy định. 

“Điều 17. Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt

5. Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt quy định tại Điều này không áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

a) Dự án đầu tư đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành,

b) Dự án đầu tư quy định tại khoản 7 Điều 14 của Luật này.

…”

“Điều 14. Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư

7. Ưu đãi đầu tư quy định tại điểm b khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các dự án đầu tư sau đây: 

a) Dự án đầu tư khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản, b) Dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ dự án sản xuất ô tô, tàu bay, du thuyền, 

c) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại theo quy định của pháp luật về nhà ở.

…”

Về điều kiện đủ, khoản 5 Điều 17 Luật Đầu tư 2025 đã thiết lập các ngoại lệ cấm áp dụng đối với cơ chế này nhằm bảo vệ an toàn ngân sách và định hướng dòng vốn. Cụ thể, thiết lập nguyên tắc không hồi tố đối với các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Đồng thời, pháp luật cũng loại trừ tuyệt đối việc áp dụng ưu đãi đặc biệt đối với nhóm dự án quy định tại khoản 7 Điều 14, bao gồm dự án khai thác khoáng sản, sản xuất kinh doanh hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (nhưng mở ra ngoại lệ vẫn cho phép ưu đãi đối với dự án sản xuất ô tô, tàu bay, du thuyền) và dự án xây dựng nhà ở thương mại. 

2.3. Điều kiện hưởng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư “vượt khung”

Đây là cấp độ ưu đãi mang tính ngoại lệ, không bị giới hạn bởi các khung định mức thông thường của pháp luật về thuế hay đất đai, mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chính trị và định hướng chiến lược cấp cao của Nhà nước. 

“Điều 17. Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt đầu tư khác trong trường hợp cần khuyến khích phát triển một dự án đầu tư đặc biệt quan trọng hoặc đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

6. Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các ưu đãi đầu tư khác trong trường hợp cần khuyến khích phát triển một dự án đầu tư đặc biệt quan trọng hoặc đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.” 

Đáng chú ý, tính linh hoạt của cơ chế “vượt khung” được pháp luật phân định thẩm quyền rất rõ ràng dựa trên mức độ ngoại lệ của chính sách. Ở cấp độ thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định “các ưu đãi đầu tư khác” cho các dự án đặc biệt quan trọng. 

Điều 24. Dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư 

20. Dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.” 

Điều 25. Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư

1. Quốc hội chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư quy định tại khoản 20 Điều 24 của Luật này.”

Tuy nhiên, ở cấp độ cao hơn, nếu cơ chế, chính sách đặc biệt được đề xuất có nội dung “khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội”, dự án sẽ được trình lên Quốc hội để trực tiếp xem xét và chấp thuận chủ trương đầu tư. Đây là chốt chặn pháp lý cao nhất, khẳng định cam kết của Nhà nước trong việc sẵn sàng tháo gỡ mọi rào cản thể chế cho những siêu dự án mang tính bước ngoặt. 

Kết luận

Luật Đầu tư 2025, cùng với Nghị định 96/2026/NĐ-CP, đã định hình một hệ thống ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo cấu trúc phân tầng rõ ràng, trải dài từ các cơ chế mang tính phổ quát, dựa trên ngành, nghề, địa bàn, quy mô vốn và lao động đến các chính sách ưu đãi đặc biệt dành cho lĩnh vực công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo, bán dẫn, và cao nhất là cơ chế “vượt khung” thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc Quốc hội.

Tuy nhiên, có một điểm cần được nhận diện rõ ràng rằng ưu đãi đầu tư về bản chất là sự giảm trừ có điều kiện đối với nghĩa vụ tài chính của nhà đầu tư, trong khi hỗ trợ đầu tư lại mang tính chất chủ động từ phía Nhà nước, phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách và định hướng chính sách trong từng giai đoạn. Việc phân định rạch ròi giữa hai cơ chế này, cùng với quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện và thẩm quyền, góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong phân bổ nguồn lực công, đồng thời tạo ảnh hưởng chính sách đủ lớn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp nên không chỉ dừng lại ở việc được hưởng ưu đãi, mà cần chủ động rà soát và định vị dự án của mình trong hệ thống chính sách hiện hành, từ việc xác định đúng đối tượng, đáp ứng các tiêu chí về giải ngân, doanh thu, lao động, cho đến việc nhận diện các trường hợp bị loại trừ. Quan trọng hơn, việc chuẩn bị đầy đủ hồ sơ pháp lý và tuân thủ các điều kiện duy trì ưu đãi trong suốt vòng đời dự án sẽ là yếu tố quyết định để chuyển hóa các cam kết chính sách thành lợi ích thực chất và bền vững.