| Mục lục: 1. Phá sản là gì? 2. Thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản? 3. Chủ thể nào có quyền yêu cầu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản? |
1. Phá sản là gì?
Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, phá sản được hiểu là “tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và đã có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.”
Cần lưu ý rằng, việc doanh nghiệp, hợp tác xã đang kinh doanh thua lỗ hoặc gặp khó khăn về tài chính không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, hợp tác xã đã lâm vào tình trạng phá sản. Một doanh nghiệp hoặc hợp tác xã chỉ được xác định là phá sản khi đáp ứng đầy đủ đồng thời hai điều kiện sau:
- Thứ nhất, doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán;
- Thứ hai, đã có quyết định của Tòa án tuyên bố về việc doanh nghiệp, hợp tác xã đó phá sản.
2. Thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản?
Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền không chỉ giúp quy trình nộp đơn được thụ lý nhanh chóng mà còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ và doanh nghiệp. Theo Điều 6 Luật Phục hồi, phá sản 2025, thẩm quyền giải quyết được phân định rõ ràng như sau:
a. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 6 Luật phục hồi, phá sản năm 2025 quy định:
“1. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực đối với vụ việc phục hồi, phá sản do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.
2. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền được xác định như sau:
a) Tòa án nhân dân khu vực nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính có thẩm quyền giải quyết yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
b) Tòa án nhân dân khu vực nơi người phải thi hành cư trú, làm việc, có trụ sở chính, nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định về phục hồi, phá sản có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về phục hồi, phá sản của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;
c) Tòa án nhân dân khu vực nơi người liên quan đến yêu cầu hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản của nước ngoài cư trú, làm việc, có trụ sở; nơi có tài sản liên quan đến yêu cầu hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản của nước ngoài.”
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 04/2026/UBTVQH16 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định:
“2. Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực đối với vụ việc phục hồi, phá sản được quy định như sau:
a) Tòa án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 18 tỉnh, thành phố, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Tuyên Quang;
b) Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 07 tỉnh, thành phố, bao gồm: Đà Nẵng, Huế, Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Quảng Ngãi và Quảng Trị;
c) Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 09 tỉnh, thành phố, bao gồm: Cần Thơ, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Vĩnh Long.”
Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực là cấp Tòa án trực tiếp tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu khởi đầu của vụ việc phá sản. Tòa án nhân dân khu vực nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính sẽ có thẩm quyền giải quyết. Phạm vi thẩm quyền cụ thể theo lãnh thổ của từng Tòa án nhân dân khu vực sẽ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.
b. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Căn cứ khoản 3 Điều 6 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định về Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh như sau:
– Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị đối với quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân khu vực;
– Giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị đối với quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về phục hồi, phá sản của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Như vậy, Tòa án cấp tỉnh đóng vai trò là cơ quan giám sát và giải quyết các khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân khu vực.
c. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ khoản 4 Điều 6 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 quy định về Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao như sau:
– Xem xét lại các quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh về việc giải quyết đơn đề nghị xem xét lại hoặc kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản;
– Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền nảy sinh giữa các Tòa án nhân dân khu vực với nhau.
3. Chủ thể nào có quyền yêu cầu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản?
Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025, chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản gồm:
“1. Người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm:
a) Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần;
b) Người lao động, công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán;
c) Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn trong trường hợp Điều lệ công ty quy định;
d) Thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 65% tổng số vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc tỷ lệ nhỏ hơn trong trường hợp Điều lệ công ty quy định;
đ) Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã.
4. Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã khi cơ quan bảo hiểm xã hội đã thông báo đôn đốc đối với khoản chậm, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế nhưng không có phản hồi trong 03 năm liên tiếp gần nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.”
Bên cạnh các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 cũng quy định một số chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong những trường hợp nhất định:
“2. Những người sau đây có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, trừ trường hợp đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi:
a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã;
b) Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Hội đồng thành viên của công ty hợp danh;
c) Đại hội thành viên của hợp tác xã;
d) Chủ doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
3. Cơ quan quản lý thuế phải nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Chính phủ quy định điều kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản.”
Như vậy, khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không phải mọi chủ thể đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết mà phải thuộc nhóm chủ thể được pháp luật cho phép. Quy định này nhằm bảo đảm việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán được tiến hành kịp thời, tránh trường hợp doanh nghiệp tiếp tục phát sinh thêm nghĩa vụ tài chính gây ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ và người lao động.


English
