THI HÀNH ÁN DÂN SỰ GẶP KHÓ KHI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN KHÔNG CÓ TÀI SẢN

Mục lục:
1. Thế nào là có điều kiện thi hành án dân sự?
2. Thế nào là “chưa có điều kiện thi hành án”?
3. Một số vướng mắc, khó khăn hiện nay?

Trong thi hành án dân sự, bản án có hiệu lực chưa chắc đã được thực hiện trên thực tế. Một trong những vướng mắc kéo dài là trường hợp người phải thi hành án không có tài sản hay thu nhập để thực hiện nghĩa vụ.

1. Thế nào là có điều kiện thi hành án dân sự?

“5. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì đương sự không còn quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

6. Có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

10. Phí thi hành án là khoản tiền mà đương sự phải nộp khi người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.”

Như vậy, “có điều kiện thi hành án” không chỉ là việc người phải thi hành án có tài sản hay thu nhập, mà là khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ, dù tự mình hay thông qua người khác. Đây là mốc để cơ quan thi hành án quyết định hướng xử lý: khi người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế (Điều 4 khoản 2, Điều 72 khoản 1), còn khi không có tài sản, thu nhập thì thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành theo Điều 38 và không bị cưỡng chế. Vì vậy, xác minh đầy đủ, chính xác điều kiện thi hành án (Điều 37) là khâu quyết định để cân bằng giữa việc bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án và việc không cưỡng chế người thực sự không có khả năng thi hành. Nếu việc xác minh không đầy đủ, người phải thi hành án có tài sản có thể bị xếp nhầm vào diện chưa có điều kiện, hoặc người không có tài sản vẫn bị áp dụng biện pháp cưỡng chế không cần thiết.

2. Thế nào là “chưa có điều kiện thi hành án”?

Theo khoản 1 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 (có hiệu lực ngày 01/7/2026), Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau:

  • Người phải thi hành án không có thu nhập, hoặc chỉ có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho bản thân và người họ có trách nhiệm nuôi dưỡng, đồng thời không có tài sản.
  • Có tài sản nhưng giá trị chỉ đủ thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án.
  • Tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án.
  • Bản án tuyên xử lý tài sản nhưng khi thi hành, tài sản không còn, không xác định được nơi có động sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đã bị thu hồi.
  • Tài sản đang cầm cố, thế chấp có giá trị nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế, hoặc sau khi giảm giá vẫn bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm.
  • Bán tài sản mà giá trị đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án, và người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án.
  • Tài sản đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm khoản nợ xấu theo Luật Các tổ chức tín dụng.

Riêng các trường hợp tài sản không còn, đang thế chấp, bán giảm giá hoặc bị thu giữ vì nợ xấu, nếu người phải thi hành án còn thu nhập hoặc tài sản khác thì không được xác định là chưa có điều kiện thi hành án.

3. Một số vướng mắc, khó khăn hiện nay?

Thực tế cho thấy, số lượng việc chưa có điều kiện thi hành án vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể. Theo số liệu thống kê thi hành án dân sự năm công tác 2025 (từ ngày 01/10/2024 đến hết ngày 30/9/2025), toàn quốc có 293.354 việc chưa có điều kiện thi hành án, chiếm 27,56% tổng số việc phải thi hành (không tính số đã chuyển sổ theo dõi riêng). Tình trạng này cho thấy việc bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án vẫn gặp nhiều trở ngại khi người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hoặc chỉ có tài sản không thể kê biên, xử lý theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, công tác xác minh còn khó khăn khi người phải thi hành án vắng mặt tại nơi cư trú, không hợp tác hoặc có dấu hiệu che giấu, tẩu tán tài sản. Trường hợp tài sản vẫn đứng tên người phải thi hành án trên giấy tờ nhưng thực tế đã chuyển giao cho người khác cũng khiến việc xác định quyền sở hữu và khả năng kê biên, xử lý trở nên phức tạp.

Ngoài ra, tình trạng thiếu nhân lực và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các cơ quan liên quan cũng ảnh hưởng đến tiến độ thi hành án. Theo thông tin được Bộ Tư pháp công bố năm 2025, gần 1.000 chấp hành viên đã được giải quyết nghỉ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, tạo thêm áp lực về nhân lực trong quá trình tổ chức thi hành án. Trong khi đó, các vụ việc chưa có điều kiện thi hành vẫn cần được theo dõi, xác minh lại khi có căn cứ, làm gia tăng khối lượng công việc và nguy cơ tồn đọng kéo dài. Hệ quả là người được thi hành án phải chờ đợi lâu để bảo vệ quyền lợi dù bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cần tăng cường ứng dụng công nghệ trong xác minh tài sản, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và kịp thời xử lý các trường hợp cố tình che giấu, tẩu tán tài sản nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự.