HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Mục lục bài viết

1. Hôn nhân cận huyết là gì?

2. Nguyên nhân của hôn nhân cận huyết

3. Ảnh hưởng của hôn nhân cận huyết

4. Xử lý vi phạm hôn nhân cận huyết thống theo quy định của pháp luật

Hôn nhân cận huyết là một vấn nạn phổ biến và đặc biệt tồn tại nhiều tại các vùng dân tộc thiểu số. Vấn nạn này không chỉ vi phạm về mặt đạo đức và pháp luật mà còn để lại hậu quả ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cùng tìm hiểu về hôn nhân cận huyết.

1. Hôn nhân cận huyết thống là gì?

Hôn nhân cận huyết thống được hiểu là cuộc hôn nhân xảy ra giữa hai người cùng chung dòng máu trực hệ của một gia đình hoặc gia tộc, tức là cuộc hôn nhân giữa những người cùng chung dòng máu trong phạm vi ba đời.

Theo khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

Đồng thời, tại khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.”

2. Nguyên nhân của hôn nhân cận huyết

Trên thực tế hiện nay, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hôn nhân cận huyết thống, trong đó có một số nguyên nhân được kể đến như sau:

– Trình độ nhận thức, hiểu biết và trình độ dân trí của người dân tại một số nơi vẫn còn thấp, đặc biệt là những vùng khó khăn nên người dân chưa hiểu rõ được hậu quả nặng nề mà hôn nhân cận huyết đem lại tới sức khoẻ và xã hội.

– Quan niệm của một bộ phận người dân còn cho rằng những người cùng họ hàng lấy nhau thì gần gũi nhau hơn, thương yêu nhau hơn, khó bỏ nhau.

– Những tập tục lạc hậu của người dân và đặc biệt là các vùng miền núi, miền kinh tế xã hội còn nhiều những khó khăn. Đáng nhắc đến là những hủ tục xưa về hôn nhân của người dân tại các vùng miền núi do sự sắp xếp của gia đình hai bên.

– Các chế tài xử phạt vi phạm hôn nhân cận huyết thống chưa đủ mạnh mẽ để nhằm mục đích có thể ngăn ngừa, răn đe tình trạng hôn nhân cận huyết thống, bên cạnh đó thì vấn đề xử phạt của cơ quan Nhà nước chưa quyết liệt.

Đồng thời, các công tác tuyên truyền vận động người dân về vấn nạn hôn nhân cận huyết thống được tiến hành không thường xuyên và thiếu hiệu quả.

3. Ảnh hưởng của hôn nhân cận huyết thống

3.1 Ảnh hưởng của hôn nhân cận huyết thống đến bản thân và gia đình

Hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng tiêu cực đến nòi giống và sức khoẻ của con người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Sức khoẻ và quyền lợi của trẻ không được bảo đảm, chất lượng dân số giảm dẫn đến nhiều hệ luỵ: bệnh tật, thất học, nghèo đói,..

– Đối với đứa trẻ sinh ra từ hôn nhân cận huyết thống có thể bị dị dạng hoặc mắc các bệnh di truyền.

– Đối với người mẹ, hôn nhân cận huyết thống dẫn tới nguy cơ cao bị thai lưu, sảy thai…

3.2 Ảnh hưởng của hôn nhân cận huyết thống đến xã hội.

– Hôn nhân cận huyết thống là hủ tục trái với truyền thống đạo đức và văn hoá và làm suy giảm giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc tại Việt Nam.

– Hôn nhân cận huyết thống là rào cản cho sự phát triển kinh tế – xã hội, gánh nặng từ việc chi trả chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh lý di truyền.

4. Xử lý vi phạm hôn nhân cận huyết thống theo quy định của pháp luật

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ giữa những người có họ trong phạm vi ba đời (hôn nhân cận huyết thống). Hành vi trên sẽ phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, cụ thể như:

Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định sẽ phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa nhưng người có họ trong phạm vi ba đời.

Ngoài ra, Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về Tội loạn luân: “Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”