- 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng?
- 2. Tự nguyện thi hành và các trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng?
- 2.1 Nguyên tắc tự nguyện thi hành
- 2.2 Các trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng?
– “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không chung sống với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.” – CSPL: khoản 24 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014.
– “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.”
(Căn cứ: Khoản 1 Điều 107 Luật HN&GĐ 2014)
2. Tự nguyện thi hành và các trường hợp áp dụng cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng?
2.1 Nguyên tắc tự nguyện thi hành
Khi nhận được quyết định của Tòa án về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì cha mẹ phải thực hiện theo đúng quy định. Nhà nước khuyến khích các bên thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Tự nguyện thi hành cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái sau khi ly hôn. Cha, mẹ mà không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc con không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình.
Các đương sự thỏa thuận được với thi hành án về thời gian, địa điểm, phương thức và nội dung thi hành.
2.2 Các trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng
Hết hạn tự nguyện thi hành (sau 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án), cha mẹ có đủ điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì có thể bị cưỡng chế thi hành án.
– Cưỡng chế cấp dưỡng qua việc khấu trừ thu nhập:
Theo Khoản 1, 2 Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định :
“1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
b) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án;”
VD: Anh A và chị B ly hôn và theo quyết định của tòa án, anh A phải cấp dưỡng cho con 7 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, anh A liên tục chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, không đóng đủ số tiền quy định. Sau 6 tháng, chị B nộp đơn yêu cầu cưỡng chế cấp dưỡng. Tòa án quyết định khấu trừ lương của anh A trực tiếp từ công ty mỗi tháng để đảm bảo nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện đầy đủ.
– Cưỡng chế cấp dưỡng qua việc kê biên tài sản:
Theo Khoản 1, 2 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định về Quyết định kê biên tài sản:
“1. Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
…
2. Chấp hành viên không ra quyết định kê biên tài sản trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
VD: Anh C phải cấp dưỡng 10 triệu đồng mỗi tháng cho con theo thỏa thuận khi ly hôn với chị D. Tuy nhiên, anh C cố tình không thực hiện nghĩa vụ này trong suốt 02 năm. Sau khi chị D nộp đơn yêu cầu tòa án cưỡng chế, tòa án đã ra quyết định kê biên một căn nhà thuộc sở hữu của anh C để bán đấu giá, từ đó lấy tiền cấp dưỡng cho con.


English
