NGHỊ QUYẾT 24/2026/QH16 VÀ BƯỚC THÍ ĐIỂM LUẬT SƯ CÔNG

Mục lục:
1. Luật sư công: Chủ thể, mục tiêu và phạm vi hoạt động.
2. Vì sao cần luật sư công?
3. Khác biệt giữa luật sư công và luật sư tư?

1. Luật sư công: Chủ thể, mục tiêu và phạm vi hoạt động

Nghị quyết số 24/2026/QH16 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công ngày 24/4/2026 (có hiệu lực từ 01/10/2026 đến 30/9/2028) quy định tại khoản 1 Điều 2:

“1. Luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Nghị quyết này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, luật sư công mang hai tư cách cùng lúc: vừa là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, vừa hành nghề bằng chứng chỉ luật sư nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước.

Phạm vi công việc, luật sư công thực hiện tư vấn, đại diện và tham gia tố tụng trong các vụ việc trong nước và quốc tế; tư vấn pháp lý cho các dự án phát triển; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp và các nhiệm vụ pháp lý khác trong khu vực nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết này.

2. Vì sao cần Luật sư công?

Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng khi trình bày tờ trình trước Quốc hội ngày 20/4/2026 (Báo Hà Nội Mới), việc hình thành đội ngũ luật sư công xuất phát từ nhiều bất cập thực tiễn. Số vụ án hành chính tăng nhanh và ngày càng phức tạp, trong khi nhiều cơ quan nhà nước còn lúng túng khi tham gia tố tụng, chuẩn bị hồ sơ, khiến hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước chưa cao. Bên cạnh đó là rủi ro pháp lý ở các dự án kinh tế – xã hội, giao dịch quốc tế, tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế và tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, nhất là trong lĩnh vực đất đai.

Về chủ trương, Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị đã đồng ý thí điểm chế định luật sư công tại một số bộ, ngành, địa phương và yêu cầu sớm thể chế hóa. Nghị quyết số 24/2026/QH16 ra đời nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thí điểm, từng bước hình thành đội ngũ luật sư chuyên nghiệp trong khu vực nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng quản trị pháp lý.

3. Khác biệt giữa luật sư công và luật sư tư?

Để dễ hình dung, bài viết dùng cụm “luật sư tư” để chỉ luật sư hành nghề theo Luật Luật sư hiện hành. Dưới đây là so sánh giữa hai nhóm:

 Luật sư côngLuật sư tư
Chủ thểLà cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được cấp chứng chỉ hành nghề luật sưLà luật sư hành nghề tại các tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định của Luật Luật sư
Phạm vi hành nghềBảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước.Cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bất kỳ có nhu cầu, kể cả cơ quan nhà nước khi thuê dịch vụ.
Nguồn thu nhậpLương và chế độ đặc thù, thu nhập từ công việc luật sư công theo Nghị quyết số 24/2026/QH16Thù lao thỏa thuận với khách hàng
Phạm vi áp dụngChỉ tại các cơ quan thí điểm (8 bộ, 10 tỉnh, thành), trong thời hạn từ 1/10/2026 đến hết 30/9/2028Toàn quốc, không giới hạn thời gian