Công ty Luật Việt Đông Á cập nhật và phân tích quy định pháp luật về quyền của bên cho vay khi người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đặc biệt là vấn đề xử lý tài sản của người vay để thu hồi khoản nợ.
1. Nghĩa vụ trả nợ của người vay
Theo khoản 1, 2 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“ 1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.”
Như vậy, khi khoản vay đến hạn, người vay có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Nếu không thực hiện đúng hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ và áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.”
Quy định này cho thấy quyền sở hữu của người vay đối với tài sản của mình vẫn được pháp luật bảo vệ, kể cả khi người đó đang có nghĩa vụ trả nợ.
Nhưng nếu tài sản đã được dùng để bảo đảm khoản vay thì pháp luật cho phép tài sản đó được xử lý khi phát sinh căn cứ xử lý tài sản bảo đảm. Cụ thể, Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, trong đó có trường hợp:
“Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
Tuy nhiên, việc có căn cứ xử lý tài sản bảo đảm không đồng nghĩa với việc bên nhận bảo đảm được tự ý bán tài sản theo bất kỳ cách thức nào.Về phương thức xử lý, Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các bên có thể thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bao gồm:
“a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.”
Nếu tài sản không phải tài sản bảo đảm, chủ nợ không được tự ý lấy hoặc bán tài sản đó để trừ nợ; nếu người vay không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, chủ nợ có thể khởi kiện và yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định. Nếu tài sản là tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có thể xử lý tài sản khi phát sinh căn cứ xử lý và theo phương thức đã được thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.
2. Tự ý bán tài sản của người vay có thể dẫn đến hậu quả pháp lý gì?
Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và bồi thường thiệt hại:
“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Do đó, nếu bên cho vay tự ý lấy và bán tài sản của người vay, người vay có thể yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của mình và yêu cầu bồi thường nếu hành vi đó gây ra thiệt hại thực tế.
Không phải mọi trường hợp tự ý bán tài sản của người vay đều đương nhiên cấu thành tội phạm. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào hành vi cụ thể, mục đích, lỗi, giá trị tài sản và đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội phạm theo Bộ luật Hình sự.
Công ty Luật Việt Đông Á khuyến nghị các bên trong quan hệ vay tài sản cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt là thỏa thuận về tài sản bảo đảm và phương thức xử lý tài sản khi phát sinh nghĩa vụ trả nợ. Việc tự ý chiếm giữ hoặc bán tài sản của người vay khi chưa có căn cứ pháp lý phù hợp có thể dẫn đến tranh chấp và phát sinh trách nhiệm pháp lý.


English
