Áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự trong thực tiễn xét xử theo Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP

  • 1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự?
  • 2. Hướng dẫn về thời hiệu thi hành bản án hình sự theo Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.
  • 3. Trường hợp không áp dụng thời hiệu?

1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự?

“Thời hiệu thi hành bản án hình sự” là là thời hiệu thi hành bản án về quyết định hình phạt mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên. Thời hiệu thi hành bản án đối với quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản trong bản án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 60 BLHS 2015 được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP

2. Hướng dẫn về thời hiệu thi hành bản án hình sự theo Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định tại Khoản 2, 3 Điều 60 BLHS 2015 như sau:

2. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:

a) 05 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt từ từ 03 năm trở xuống;

b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm;

c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm;

d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình.

3. Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm.

– Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 60 BLHS, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

VD: Nguyễn Văn A bị Tòa án phạt 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích theo bản án số 01/2025/HS-ST ngày 01/01/2025 (đã có hiệu lực pháp luật), Nguyễn Văn A chưa chấp hành hình phạt tù. Ngày 01/3/2025, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản.

-> Như vậy thời hiệu thi hành bản án số 01/2025/HS-ST là 05 năm được tính từ ngày 01/3/2025, thời hiệu thi hành bản án đối với tội trộm cắp tài sản được tính từ ngày bản án kết án về tội trộm cắp tài sản có hiệu lực pháp luật.

(Căn cứ: Khoản 4 Điều 60 BLHS 2015 được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 3 NQ 03/2024/NQ-HĐTP)

– Trường hợp bản án hình sự tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì thời hiệu thi hành bản án được tính theo hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất.

VD: Bản án hình sự phúc thẩm số 01/2024/HS-PT ngày 10/01/2024, Tòa án nhân dân cấp cao quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2023/HS-ST ngày 02/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh T.Ttuyên bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội giết người, tội cố ý gây thương tích và tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội giết người, 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích, 70.000.000 đồng về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 14 năm tù và 70.000.000 đồng.

-> Trường hợp trên hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất là 14 năm tù. Như vậy, thời hiệu thi hành Bản án hình sự phúc thẩm số 01/2024/HS-PT là 10 năm.

(Căn cứ: khoản 3 Điều 3 NQ 03/2024/NQ-HĐTP)

– Trường hợp bản án hình sự có nhiều người bị kết án thì căn cứ vào mức hình phạt đối với từng người để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với họ – CSPL: khoản 4 Điều 3 NQ 03/2024/NQ-HĐTP.

– Trường hợp bản án hình sự tổng hợp hình phạt của nhiều bản án thì căn cứ vào mức hình phạt trong từng bản án để tính thời hiệu thi hành cho mỗi bản án hình sự đó mà không căn cứ vào mức tổng hợp hỉnh phạt chung – CSPL: khoản 5 Điều 3 NQ 03/2024/NQ-HĐTP.

– Trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 60 BLHS, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Trong trường hợp cơ quan công an không ra quyết định truy nã hoặc có ra quyết định truy nã nhưng không đúng quy định của BLTTHS trừ những việc không thể thực hiện được (vd: phải dán ảnh kèm theo nhưng không có ảnh) thì thời gian trốn tránh vẫn được tính để xác định thời hiệu thi hành bản án hình sự – CSPL: khoản 5 Điều 60 BLHS 2015, khoản 6 Điều 3 NQ 03/2024/NQ-HĐTP.

3. Trường hợp không áp dụng thời hiệu?

– Theo Điều 61 BLHS 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về việc không áp dụng thời hiệu thi hành bản án như sau: “Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, khoản 3 và khoản 4 Điều 353, khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.