PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI TÍNH?

Mục lục

1. Hôn nhân đồng giới là gì?

2. Hôn nhân đồng giới có được pháp luật Việt Nam thừa nhận không?

3. Pháp luật có cho phép chuyển đổi giới tính không?

1. Hôn nhân đồng giới là gì?

Hiện nay pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định chính thức về khái niệm hôn nhân đồng giới, thuật ngữ này xuất hiện khi có những người ủng hộ, phản đối cộng đồng LGBT (viết tắt của các danh từ đặc trưng cho xu hướng tính dục của một người bao gồm các từ: Lesbian – đồng tính nữ, Gay- đồng tính nam, Bisexual – Lưỡng tính, Transgender – Chuyển giới) về quan hệ hôn nhân.

Hôn nhân đồng giới được hiểu là hôn nhân của hai người cùng giới tính theo mối quan hệ nam – nam hoặc nữ – nữ.

2. Hôn nhân đồng giới có được pháp luật Việt Nam thừa nhận không?

Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Căn cứ quy định trên, việc kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng để tạo nên một gia đình. Một cuộc hôn nhân hợp pháp phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Vì vậy, các cặp đôi đồng giới hiện nay chung sống với nhau thì pháp luật sẽ không cấm nhưng không có mối quan hệ pháp lý ràng buộc.

3. Pháp luật có cho phép chuyển đổi giới tính không?

Căn cứ Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

 “Điều 37. Chuyển đổi giới tính

Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Vì vậy, hiện nay việc chuyển đổi giới tính thì không phải trường hợp nào di chuyển đổi cũng được làm lại giấy tờ. Việc chuyển đổi phải đúng trường hợp pháp luật quy định và sau đó là thực hiện việc thay đổi thông tin cá nhân của một người chuyển đổi giới tính cũng rất khó có thể thực hiện.

Bài viết cùng chủ đề: