Mục lục

1. Mang thai hộ là gì?

2. Mang thai hộ được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào?

3. Mức xử phạt nào đối với mang thai hộ vì mục đích thương mại

1. Mang thai hộ là gì?

Giải thích theo sinh học thì “mang thai hộ” là khi người phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng khi họ mong muốn có con nhưng không thể mang thai được. Quá trình này diễn ra qua việc tạo ra phôi từ trứng và tinh trùng của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ thông qua thụ tinh trong ống nghiệm. Phôi của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ được chuyển vào trong tử cung của người phụ nữ mang thai hộ.

2. Mang thai hộ tại Việt Nam được quy định như thế nào?

Hiện nay, tại pháp luật Việt Nam, khái niệm “mang thai hộ” được chia thành “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “mang thai hộ vì mục đích thương mại” quy định tại khoản 22, 23 Điều 3, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

            “Điều 3. Giải thích từ ngữ

            22. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

            23. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

            Đối với “mang thai vì mục đích nhân đạo” được quy định thêm tại Điều 95, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

            Điều 95. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

            1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

            2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

            a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

            b) Vợ chồng đang không có con chung;

            c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

            3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

            a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

            b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

            c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

            d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

            đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

            4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

            5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

            Đối với “mang thai hộ vì mục đích thương mại” được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì mang thai hộ vì mục đích thương mại bị nghiêm cấm thực hiện.

            “2. Cấm các hành vi sau đây:

            g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính.”

3. Mức xử phạt nào đối với mang thai hộ vì mục đích thương mại?

Đối với xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại, theo Điều 60 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã:

            “Điều 60. Hành vi vi phạm quy định về sinh con

            1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại.

            2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.